|
IPv4 là địa chỉ IP dùng 32 bit chia thành 4 octet mỗi octet có 8 bit tương đương với 1 byte. Mỗi octet được cách nhau bởi dấu "." và các bit được đánh dấu từ trái sang phải. IPv4 có 3 thành phần chính:
Class bit Net ID Host ID
Bit 1..........................32
Trong đó: Class bit là bit nhận dạng lớp
Net ID là địa chỉ mạng
Host ID là địa chỉ máy chủ
Lưu ý: trong thực tế chúng ta chì hay gặp địa chỉ IP mà đã được chuyển sang hệ thập phân tức là nó có dạng: xxx.xxx.xxx.xxx Class IDLà những bit nhận dạng lớp. Trong IPv4 có 5 lớp: A,B,C,D,E (D,E chỉ dùng để nghiên cứu) Trong mỗi lớp người ta lấy số bit đánh dấu khác nhau. Ví dụ: Lớp A người ta lấy 1 bit đầu là 0, lớp B lấy 2 bit đầu là 10 và lớp C là 110 để đánh dấu lớp. Tất cả những bit này đều nằm trong octet 1. Net IDGồm các bit trong 1 hoặc nhiều octet tùy thuộc vào các lớp khác nhau để mã hóa địa chỉ. Trong lớp A: Người ta lấy các bit trong octet 1(trừ đi Class bit) để mã hoá Net ID => trong Class A chúng ta có 7 bit để mã hoá Net ID, tức là mã hoá được 27=128 địa chỉ mạng. Trong lớp B: Người ta lấy các bit trong 2 octet 1 và 2(trừ Class bit) để mã hóa Net ID tức là có 14 bit mã hóa được 214=16384 địa chỉ mạng. Trong lớp C: tương tự Class A và B chỉ khác người ta lấy các bit trong 3 octet 1,2,3 để mã hóa mà thôi. Host IDTương ứng với mỗi lớp mà người ta lấy tất cả các bit còn lại để mã hóa Host ID. Ví dụ:
Như vậy, mỗi class có số lượng mạng và máy chủ thay đổi ít nhiều khác nhau tùy nhu cầu sử dụng mà phân chia. Để tránh tình trạng lãng phí do sự mất cân đối này người ta cho ra đời khái niệm Subnet Mask để giải quyết tình trạng trên.
|
This article is from Wikipedia. All text is available under the terms of the GNU Free Documentation License.
Mercedes Car
This site monitored by SitePinger.net