|
Article on other languages:
|
Archaeopteryx hay chim thủy tổ (lấy tên từ tiếng Hy Lạp cổ ἀρχαῖος archaios có nghĩa 'cổ đại' và πτέρυξ pteryx có nghĩa là 'lông' hoặc 'cánh'; phát âm là "Ar-kay-op-ter-iks" [ɑː(ɹ)kɪˈɒptəɹɪks]) là loài chim sớm nhất và nguyên thủy nhất mà con người biết được cho đến nay. Loài chim này sống vào cuối kỷ Jura, khoảng từ 155-150 triệu năm trước đây tại khu vực mà ngày nay là nước Đức. Trong tiếng Đức, Archaeopteryx cũng được biết với tên Urvogel, một từ có nghĩa "chim thủy tổ" hay "chim đầu tiên". Dù tên gọi có xuất xứ từ Đức, nó cũng được sử dụng ở các nước nói tiếng Anh. Vào thời Archaeopteryx đang sinh sống, châu Âu đã là một quần đảo ở một khu vực biển nông nhiệt đới ấm, gần xích đạo hơn ngày nay. Archaeopteryx có lông vũ và cánh, nhưng nó cũng có răng và bộ xương giống như loài khủng long ăn thịt nhỏ, do đó nó có các đặc điểm của chim và cả khủng long của phân bộ Chân thú (Theropoda). Tương tự về kích cỡ và hình dạng như loài ác là châu Âu, loài chim này có cánh tròn và rộng và đuôi dài. Archaeopteryx có thể phát triển đến kích thước dài 0,5 m. Lông vũ của nó giống như lông các loài chim bay hiện nay, cho thấy rằng không chỉ nó có khả năng bay, mà còn có máu nóng. Nếu không, những đặc tính của nó là bò sát, với hàm có dãy răng sắc, 3 ngón chân có vuốt cong và đuôi xương dài. Các đặc điểm này, phù hợp với các loài khủng long Theropoda, khiến cho Archaeopteryx là ứng viên đầu tiên cho một hóa thạch chuyển tiếp. Tiêu bản hoàn chỉnh đầu tiên đã được công bố năm 1862, chỉ 2 năm sau khi Charles Darwin cho xuất bản cuốn sách Nguồn gốc muôn loài, và đã trở thành một tiêu bản bằng chứng gây tranh luận về sự tiến hóa.[1][2][3] 11 mẫu hóa thạch hiện được phân loại là Archaeopteryx là những chứng cứ cổ xưa nhất của chim muông trên trái đất và chỉ có ngần này có niên đại từ thời kỳ kỷ Jura. Ngoài ra, đặc điểm cấp cao của chúng và sự bố trí của chúng cho thấy nguồn gốc của chúng ắt hẳn đã sớm hơn.[4] Đa số các chuyên gia xem tất cả những di vật đã được phát hiện đều thuộc về một loài, dù luận cứ này vẫn còn đang bị tranh cãi. Phân loạiNgày nay, các hóa thạch thường được coi là của loài A. lithographica, nhưng lịch sử phân loại là phức tạp. Hàng chục tên gọi khoa học đã được công bố cho một ít các mẫu vật, phần lớn trong chúng đơn giản chỉ là lỗi do cách phát âm (lapsus). Ban đầu, tên gọi A. lithographica chỉ là để nói tới một chiếc lông vũ do von Meyer miêu tả. Năm 1960, Swinton đề nghị rằng tên gọi Archaeopteryx lithographica cần được chuyển chính thức từ chiếc lông vũ sang cho mẫu vật tại London.[5] ICZN đã loại bỏ tình trạng thừa thãi các tên gọi thay thế khác mà ban đầu được đề nghị cho các mẫu vật đầu tiên còn bộ xương,[6], trong đó chủ yếu là kết quả tạo ra từ tranh luận gay gắt giữa von Meyer và đối thủ của ông Johann Andreas Wagner (mà Griphosaurus problematicus—"Thằn lằn-bí ẩn có vấn đề" của ông là sự chế nhạo cay độc đối với Archaeopteryx của von Meyer).[7] Ngoài ra, miêu tả về các hóa thạch Archaeopteryx như là thằn lằn có cánh (Pterosauria) trước khi bản chất tự nhiên thật sự của chúng được công nhận cũng bị loại bỏ.[8] Mối quan hệ giữa các mẫu vật cũng có vấn đề. Phần lớn các mẫu vật sau đó đã được đặt tên loài riêng của chính chúng theo quan điểm này hay quan điểm khác. Mẫu vật tại Berlin được gọi là Archaeornis siemensii, mẫu vật tại Eichstätt là Jurapteryx recurva, mẫu vật tại Munich là Archaeopteryx bavarica còn mẫu vật tại Solnhofen là Wellnhoferia grandis. Gần đây, người ta cho rằng tất cả các mẫu vật này đều thuộc về một loài.[9] Tuy nhiên, các khác biệt đáng kể vẫn tồn tại giữa các mẫu vật. Cụ thể, các mẫu vật tại Munich, Eichstätt, Solnhofen và Thermopolis khác với các mẫu vật tại London, Berlin và Haarlem ở chỗ là hoặc là nhỏ hơn hoặc là lớn hơn nhiều, với các tỷ lệ ngón là khác biệt, các mỏ mảnh dẻ hơn, các hàng răng chĩa về phía trước và khả năng tồn tại của xương ức. Các khác biệt này là lớn bằng hoặc lớn hơn các khác biệt mà ngày nay người ta thấy ở chim trưởng thành của các loài khác nhau. Tuy nhiên, cũng có thể là các khác biệt này được giải thích là do niên đại khác nhau của các loài chim còn sinh tồn. Cuối cùng, cần lưu ý rằng chiếc lông, mẫu vật đầu tiên của Archaeopteryx đã miêu tả, không trùng khớp hoàn toàn với những chiếc lông liên quan tới bay lượn của Archaeopteryx. Nó dĩ nhiên là lông của loài đương thời, nhưng kích thước và các tỷ lệ của nó chỉ ra rằng nó có thể thuộc về một loài khủng long có lông vũ vẫn chưa được khám phá ra. Do chiếc lông này là mẫu vật điển hình ban đầu, điều này đã tạo ra một vài sự lộn xộn danh pháp. Đồng nghĩa
Bốn đơn vị phân loại cuối có thể là các chi và loài hợp lệ. "Archaeopteryx" vicensensis (Anon. fide Lambrecht, 1933) là nomen nudum (tên trơ trụi) cho loài dường như là thằn lằn có cánh (Pterosauria) chưa miêu tả. Tham khảo
|
This article is from Wikipedia. All text is available under the terms of the GNU Free Documentation License.
Mercedes Car
This site monitored by SitePinger.net